Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

Chuyện khởi nghiệp của 12 tài phiệt Phố Wall

Tỷ phú Warren Buffett bán kẹo cao su, giao báo, trong khi đó CEO của Goldman Sachs từng là đứa trẻ đi bán lạc ở sân vận động.
 
 
Tỷ phú Warren Buffett "khởi nghiệp" năm 6 tuổi bằng việc đi từ nhà này sang nhà khác để bán kẹo cao su, Coca-Cola, tạp chí và giao nhật báo. Hiện tại, nhà đầu tư thiên tài đang giữ chức Chủ tịch kiêm CEO của công ty Berkshire Hathaway. Theo Forbes, tài sản hiện tại của ông đạt 53,5 tỷ USD.
 
 
Charles Schwab (4,3 tỷ USD) là người sáng lập kiêm Chủ tịch tập đoàn mang tên ông, đơn vị chuyên môi giới chứng khoán được thành lập từ năm 1971. Thời niên thiếu, Charles đóng gói hạnh nhân ở Sacramento (California, Mỹ).
 
 
David Tepper làm việc trong thư viện nghệ thuật của Đại học Pittsburgh để có tiền trả học phí. Thời trung học ông từng nộp đơn làm tại McDonald's nhưng không trúng tuyển. Giờ đây Tepper là người điều hành quỹ đầu cơ Appaloosa Management và là một trong những người có kỷ lục đầu tư dài hạn tốt nhất trên Phố Wall. Năm 2012, Tepper được vinh danh quản lý quỹ đầu cơ có mức lương cao nhất.
 
 
CEO John Stumpf của Wells Fargo từng xếp cuối lớp với số điểm tồi tệ thời trung học. Sau khi tốt nghiệp ông trở thành thợ làm bánh trong một cửa hàng bánh ngọt tại Pierz, Minnesota.
 
 
Julian Robertson phục vụ Hải quân Mỹ 2 năm, sau khi tốt nghiệp Đại học Bắc California. Năm 1957 ông bắt đầu sự nghiệp Phố Wall với vị trí nhân viên kinh doanh thực tập tại Kidder Peabody & Company. Năm 1980, Julian thành lập Tiger Management, một trong những quỹ đầu cơ thành công nhất trên thế giới. Forbes ước tính tài sản của ông 2,8 tỷ USD.
 
 
Lloyd Blankfein lớn lên trong một dự án nhà ở xã hội tại Brooklyn (Mỹ). Để có tiền tiêu vặt, cậu bé Lloyd đi bán lạc tại sân vận động Yankee. Hiện nay ông là CEO kiêm Chủ tịch tập đoàn tài chính Goldman Sachs.
 
 
Khi còn theo học tại Đại học Johns Hopkins, Michael Bloomberg làm bảo vệ tại bãi đỗ xe. Năm 1966, ông được nhận vào làm tại Salômn Brothers và bị sa thải năm 1981. Sau đó Michael đứng ra thành lập công ty riêng mình, nay trở thành tập đoàn Bloomberg LP hùng mạnh. Ngoài vai trò là doanh nhân, Michael còn giữ chức Thị trưởng thành phố New York (Mỹ). Theo Forbes, tài sản ước tính của ông là 27 tỷ USD.
 
 
Phil Falcone từng là cầu thủ khúc côn cầu chuyên nghiệp tại Thụy Điển sau khi tốt nghiệp Đại học Harvard. Tuy nhiên, sự nghiệp của ông chỉ kéo dài một năm cho đến khi bị chấn thương trước khi chuyển sang hoạt động tại Phố Wall. Bắt đầu con đường tài chính bằng các trái phiếu rác, nay Phil đã có tài sản 1,2 tỷ USD. Ông là nhà sáng lập quỹ đầu cơ Harbinger Captital.
 
 
Năm 12 tuổi, Ray Dalio đi xách đồ và nhặt bóng sân golf, kiếm 6 USD mỗi khách và sau đó dùng số tiền này để mua những cổ phiếu đầu tiên. Ray giờ đây là người sáng lập quỹ Bridgewater Associates. Tạp chí Time năm 2012 bình chọn ông là một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Tài sản ước tính 12,5 tỷ USD.
 
 
Trong những năm 1950, Sandy Weill thử sức với việc bán sách hướng dẫn du lịch thành phố New York. Còn công việc đầu tiên của ông tại Phố Wall là trong phòng hậu cần của một công ty môi giới. Hiện Sandy là Chủ tịch Citigroup, kiêm cựu CEO.
 
 
Steve Cohen khởi nghiệp tại siêu thị Bohack với lương 1,85 USD một giờ. Sau đó ông nghỉ việc vì bàn chơi bạc mang lại thu nhập cao hơn. Steve là người sáng lập SAC, công ty có thị giá 14 tỷ USD tại Stamford. Bản thân ông cũng sở hữu tài sản 9,3 tỷ USD.
 
 
Lớn lên ở Oklahoma, T. Boone Pickens kiếm tiền nhờ việc đưa báo khi còn thiếu niên. Để tăng doanh số, ông đã "thầu" các khu vực xung quanh. Hiện Pickens là Chủ tịch của công ty quản lý vốn BP Capital Management. Tài sản hiện tại khoảng 1,2 tỷ USD.
 
Theo Vnexpress
 

NHNN Lấy Đâu Ra Tiền Cho Vay Mua Nhà Và Mua Nợ Xấu?

Tác Giả : Nguyễn Vạn Phú
Đối với người không chuyên như chúng ta, có lẽ cũng không cần hiểu “tài khóa” và “tiền tệ” là gì, khác nhau như thế nào. Khổ nỗi, chúng là những khái niệm cơ bản để hiểu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy đâu ra tiền để rót vào bất động sản cũng như lấy đâu ra tiền để giải quyết đống nợ xấu mà không sử dụng đến ngân sách.
Tài khóa khác tiền tệ
Nói một cách đơn giản hóa, Bộ Tài chính lo các “chính sách tài khóa”; Ngân hàng Nhà nước lo các “chính sách tiền tệ”.
 “Chính sách tài khóa” thì liên quan đến việc tăng (giảm) thuế, tăng (giảm) mức chi tiêu của chính phủ. Chính phủ thu thuế và các nguồn khác vào ngân sách để có tiền mà chi tiêu. Chi nhiều hơn thu sẽ dẫn tới bội chi, lúc đó phải vay tiền về mà tiêu. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Chính phủ có thể giảm thuế cho doanh nghiệp và người dân hoặc tăng đầu tư từ ngân sách nhưng chính sách tài khóa như thế có giới hạn nhất định vì giảm thuế mãi lấy tiền đâu để ngân sách đầu tư ra xã hội. Chi tiêu như thế phải được Quốc hội phê duyệt hàng năm.
 “Chính sách tiền tệ” thì liên quan đến lãi suất và nguồn cung tiền. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, NHNN có thể tăng nguồn cung tiền và nhờ đó giảm lãi suất. Lãi suất giảm thì kích thích doanh nghiệp đầu tư. Nhưng tiền bơm ra đến một mức nào đó sẽ gây ra lạm phát. Hay nói cách khác khi lạm phát cao thì NHNN phải tăng lãi suất, giảm cung tiền.
 Nay 30.000 tỷ đồng bơm ra thị trường cho người dân vay để mua nhà và doanh nghiệp vay để xây nhà xã hội là từ bên nào? Không phải từ bên tài khóa (Bộ Tài chính) vì ngân sách đang thâm hụt, lấy đâu ra tiền mà bơm cho bất động sản. Mà lấy từ ngân sách thì phải báo cáo xin phép Quốc hội phiền phức lắm.
 30.000 tỷ đồng này lấy từ NHNN. Vậy câu hỏi là NHNN lấy đâu ra tiền để làm chuyện này? Câu trả lời rất đơn giản: NHNN in tiền.
In tiền như thế nào?
Ở đây lại cần phải nói cho rõ: Hàng năm NHNN phải in một lượng tiền giấy nhất định (in tiền theo nghĩa đen) để thay thế tiền cũ, rách nát và bổ sung vào lượng tiền mặt đang lưu hành trên thị trường theo kế hoạch đã định trước. Còn nói NHNN “in tiền” đối với khoản 30.000 tỷ đồng nói trên là nói theo nghĩa bóng. Không có chuyện máy in chạy rầm rập in ra chừng ấy tiền mà đơn giản là NHNN ghi có một khoản tiền như thế cho các ngân hàng tham gia chương trình. Các ngân hàng lúc này lấy tiền ra để cho vay. Khỏe re!
 Nếu mọi việc êm xuôi, 10 năm sau khách hàng trả nợ, ngân hàng thương mại trả lại cho NHNN, tức xóa đi cái khoản ghi nợ ngày xưa. Ai nấy đều vui vẻ.
 Nhưng sự đời thường không êm xuôi.
 Đầu tiên, hành động của NHNN đó gọi chính thức là “tái cấp vốn”, nghe rất mơ hồ, khó hiểu. Thực chất, đây là cách NHNN cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho ngân hàng, đặc biệt khi ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản. Chú ý đến từ “ngắn hạn” – tức dưới một năm. Nay NHNN lách chuyện “ngắn hạn” bằng cách quy định: “Thời hạn tái cấp vốn cho vay hỗ trợ nhà ở từng lần là 364 ngày và tự động được gia hạn đối với dư nợ tái cấp vốn còn lại tại thời điểm đến hạn thêm 01 (một) thời gian bằng thời hạn tái cấp vốn lần đầu. Việc tự động gia hạn được thực hiện tối đa kéo dài đến ngày 01/6/2023”. Cũng thật là khỏe re một kỹ thuật lách luật!
 Thứ hai, luật cũng có nói, để được tái cấp vốn, ngân hàng phải đem một cái gì đó lên thế chấp với NHNN (như cầm cố trái phiếu), ở đây không thấy nói yêu cầu gì từ phía ngân hàng tham gia.
 Như đã nói ở trên, tiền bơm vào nền kinh tế như thế sẽ gây áp lực lên lạm phát và nhiều hệ lụy khác. Còn nhớ các lần “bù lãi suất 4%” vào năm 2009 đã vừa gây ra lạm phát, vừa dẫn đến những khoản nợ xấu khổng lồ hiện nay. Giả thử một tỷ lệ nhất định người vay mua nhà không trả được nợ, NHNN sẽ gánh khoản lỗ này.
 Quan trọng hơn, cái hình thức “tái cấp vốn” dễ dàng như thế đang được NHNN lạm dụng trong nhiều trường hợp khác như hứa hẹn cấp 10.000 tỷ đồng tái canh cây cà phê ở Tây Nguyên. Rồi sắp tới, giải quyết nợ xấu, NHNN cũng sẽ dùng “chiêu” tái cấp vốn để hóa giải nợ xấu cho các ngân hàng với khoản tiền dự kiến không còn vài chục ngàn mà có thể lên cả trăm ngàn tỷ đồng. Biết bao nhiêu tiền sẽ được “in” ra, biết bao nhiêu rủi ro đang chực chờ phía trước.
Mua bán nợ xấu
Giả thử bạn cho người hàng xóm vay 100 triệu đồng, đến hạn rồi quá hạn một năm người này vẫn không trả được nợ, nợ biến thành nợ xấu. Đòi không được, bạn tính đến chuyện nhờ một công ty dịch vụ chuyên đi đòi nợ thuê đòi nợ, bên này đòi chi phí đến 50 triệu đồng. Nói cách khác bạn sẽ “bán” khoản nợ 100 triệu đồng cho công ty này với giá 50 triệu, vậy còn hơn không đòi được đồng nào.
 Như vậy bán một khoản nợ xấu được bao nhiêu là tùy thương lượng giữa bạn và công ty đòi nợ, khả năng đòi khó thì giá còn giảm nữa.
 Hôm qua Chính phủ vừa ra nghị định thành lập công ty mua bán nợ kiểu như thế nhưng có những đặc điểm rất lạ. Theo dự thảo trước đó, công ty này mua nợ của các ngân hàng bằng mệnh giá (tức ở đây mua đúng 100 triệu luôn), nhưng không trả bằng tiền mặt mà trả bằng tờ giấy nhận nợ (trái phiếu). Xong rồi ngân hàng đem tờ trái phiếu này lên NHNN, đưa cho NHNN như một dạng cầm cố, NHNN mới đưa cho ngân hàng một cục tiền ghi trong sổ sách (gọi là tái cấp vốn như nói ở trên) nhưng cục tiền này không bằng mệnh giá trái phiếu mà nhỏ hơn (kiểu như 100 triệu nợ, giờ chỉ còn 30 triệu, chẳng hạn).
 -          Lẽ ra công ty mua bán nợ là nơi định giá khoản nợ chứ không phải NHNN.
-          Công ty mua bán nợ không bỏ tiền ra nên thực tế là ngân hàng chủ nợ bán nợ cho NHNN, cái công ty mua bán nợ chỉ là một dạng trung gian.
-          NHNN dùng “chiêu thức” tái cấp vốn nên đúng là không sử dụng ngân sách nhà nước nhưng sẽ phải đảm nhiệm một mớ tài sản xấu, lại phải tung ra thị trường một lượng tiền lớn, gây áp lực lên lạm phát.
-          Lạ nhất là phát biểu của đại diện NHNN: “Các doanh nghiệp có nợ xấu bán cho VAMC sẽ được tiếp tục vay vốn của TCTD theo quy định hiện hành”. Nhớ lại ông hàng xóm trên, lẽ ra phải liệt ông vào dạng khó chơi, bắt ổng chịu một phần trách nhiệm nay lại cho ông vay tiếp, lại đẻ ra nợ xấu tiếp.
-          Ở trên bạn bán nợ cho công ty dịch vụ, nơi này sẽ tích cực đi đòi nợ, thu tiền về. Đằng này cái công ty mua bán nợ sắp được thành lập làm sao có đủ người, đủ kinh nghiệm và đủ nguồn lực khác để đi đòi nợ. NHNN thì không thể trực tiếp đi đòi nợ rồi.
-          Thực chất đây chỉ là cách tạm thời chuyển nợ xấu từ ngân hàng qua cái công ty trung gian kia, sổ sách ngân hàng đẹp lên, hy vọng họ sẽ sẵn lòng cho vay tiếp. Còn cái cục nợ kia, hy vọng từ từ doanh nghiệp làm ăn khá trở lại sẽ trả được nợ.
 Các tổ chức như IMF từng cảnh báo các ngân hàng trung ương không nên đảm nhiệm những công việc lẽ ra thuộc bên “tài khóa” vì làm thế sẽ gây áp lực lên lạm phát, đi ngược lại vai trò chủ yếu của một ngân hàng trung ương. Thôi đành quan sát chờ xem NHNN sẽ xoay xở thế nào với lạm phát – gói bù lãi suất 4% ngày xưa nay trở thành nợ xấu – nợ xấu được giải quyết bằng tái cấp vốn – để xem nó lại biến thành cái gì nữa đây.

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

5 bí quyết để vượt qua khủng hoảng

Tất cả chúng ta đều đang ở trong tình trạng khủng hoảng hiện nay. Có thể bạn quên mất sinh nhật của một người thân, hay bạn bị dính một xì-căn-đan ở nơi làm việc...
Những vận động viên như Oscar Pistorius, Tiger Woods, Lance Armstrong và nguyên Thống đốc bang New York - Eliot Spitzer, là những người hiểu rất rõ mức độ tàn phá của khủng hoảng. Nó có khả năng đàn áp, che khuất những tia hy vọng và tác động tới mọi khía cạnh trong cuộc sống của ta.
Các chuyên gia đã đưa ra một số giải pháp có thể giúp từng cá nhân cho đến những doanh nghiệp, tập đoàn vượt qua khủng hoảng. Tuy những giải pháp - đã được nâng lên thành quy luật này không hoàn toàn đảm bảo sẽ loại bỏ khủng hoảng, nhưng chúng sẽ giúp bạn đối mặt với khủng hoảng, giảm thiểu thiệt hại và tiếp tục bước về phía trước. Sau đây là 5 quy luật:
1. Tìm hiểu nguyên nhân gây nên khủng hoảng
Càng biết ít về nguyên nhân thực sự gây ra khủng hoảng, bạn sẽ càng gặp nhiều khó khăn trong việc chế ngự nó.
Bạn phải tìm ra được các chi tiết liên quan tới sự khủng hoảng càng sớm càng tốt. Chỉ có thế, bạn mới có thể vạch ra đường lối để đối mặt với nó.
Nếu có nhiều người liên quan, bạn phải chú ý lọc ra và loại bỏ những ý kiến chủ quan, bởi những ý kiến này sẽ "xâm nhập" và làm thay đổi ý nghĩa thực của sự việc.
2. Đặt dấu chấm hết cho khủng hoảng
Cách duy nhất để vượt qua khủng hoảng là tạo ra một kết thúc cho nó. Không nên để câu chuyện có nhiều thời gian rò rỉ ra ngoài, để nó lan rộng ra chỉ làm giảm uy tín của bạn mà thôi.
Lấy ví dụ từ trường hợp của Công ty dầu khí BP trong vụ tràn dầu ở Vùng Vịnh, cái thiếu sót của BP là đã không đưa ra giải pháp thiết yếu ngay tức khắc để trấn an công chúng khi dầu đang dần tràn ra biển. Bài học đúc kết được là chỉ khi bạn có thể đưa ra một giải pháp thiết thực, hoặc đặt ra một thời hạn nhất định để kết thúc nó thì bạn mới có cơ may vượt qua khủng hoảng.
3. Nói ra sự thật
Lý do của việc còn có nhiều dư luận trái chiều về Lance Armstrong sau cuộc phỏng vấn của Oprah Winfrey với ông ấy là vì mọi người còn nghi ngờ, chưa hoàn toàn tin tưởng vào sự ăn năn và tính chân thật của ông.
Tất cả sự thật dù được giấu kỹ tới đâu thì cũng có ngày nó được đưa ra trước ánh sáng. Đặc biệt trong thời buổi công nghệ thông tin hiện nay, một khi được phát tán, sự thật sẽ được lan truyền một cách nhanh chóng. Bởi thế, điều bạn nên làm là "giải phóng" sự thật để mọi người biết về nó.
Các doanh nghiệp có thể tổ chức buổi họp báo hay phỏng vấn trên TV. Phải nói sự thật một cách tuyệt đối với một phong thái chân thật, không giả tạo, và tỏ ra ăn năn nếu cần thiết.
Một điều quan trọng nữa là không phải bạn tỏ ra hối lỗi vì bạn bị "bắt quả tang" mà hãy tỏ ra hối hỗi vì những gì đã xảy ra. Hai điều này hoàn toàn khác nhau.
4. Thay đổi phương pháp làm việc để khủng hoảng không có cơ hội lặp lại
Chẳng ai muốn những khó khăn của mình quay trở lại cả. Cách tốt nhất để ngăn ngừa điều này là phân tích mọi thứ một cách kỹ lưỡng và xây dựng một con đường, hướng đi, cách làm mới. Nếu một công ty vô tình công bố thông tin của khách hàng thì phải tìm ra nguyên nhân và tạo ra phương thức mới sao cho điều này không bao giờ xảy ra nữa.
Thông báo cho mọi người biết bạn đã thay đổi những gì để không cho khủng hoảng lặp lại cũng là một cách hay để đặt dấu chấm hết cho nó. Quay lại ví dụ của công ty dầu khí BP, khủng hoảng sẽ không bao giờ kết thúc nếu công ty không thông báo cho thế giới biết rằng thảm họa tràn dầu đã nằm trong tầm kiểm soát.
5. Chuộc tội 
Một tin vui cho những người và tổ chức đang trong tình trạng khủng hoảng là xã hội thích sự chuộc lỗi. Họ thích sự hồi tỉnh và chỉ cần bạn thể hiện sự chân thật và khiêm tốn, bạn sẽ có cơ hội thứ hai.
Tất nhiên cơ hội của bạn còn phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của sai lầm bạn đã gây ra. Một kẻ sát nhân sẽ khó có được sự bao dung của xã hội hơn. Có một vài kẻ cướp nhà băng khi đã nhận ra tội lỗi của mình thì mang trả lại tiền, trở thành một phạm nhân gương mẫu trong "nhà đá" và giúp những người khác tránh phạm phải sai lầm tương tự.
Nguyên Thống đốc Spitzer sau vụ bê bối về câu lạc bộ mại dâm giờ đã hoàn lương và còn có một chương trình tivi của riêng ông. Sẽ luôn có một con đường để quay đầu lại.

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

Những thắng cảnh thiên nhiên đẹp đến ngỡ ngàng

Hang Sơn Đoòng của Việt Nam cùng nhiều địa danh khác trên thế giới được thiên nhiên ban tặng cho vẻ đẹp lộng lẫy đến khó tin.
"Đường hầm tình yêu" ở Ukraine. Thực chất đây là đoạn đường sắt dài khoảng 3km, bao phủ một màu xanh mướt vô cùng tươi mát của cây cối. Ảnh: Oleg Gordienko
Cánh đồng hoa tulip ở Hà Lan rực rỡ những dài màu. Ảnh: Allard Schager
Cánh đồng muối Salar de Uyuni ở Bolivia được xem là một trong những tấm gương lớn nhất thế giới, phản chiếu toàn bộ bầu trời và khung cảnh thiên nhiên. Ảnh: dadi360
Công viên Hitachi gần bờ biển Ajigaura ở thành phố Hitachinaka, Nhật Bản với diện tích 3,5 ha là thiên đường của các loài hoa khoe sắc quanh năm. Nơi đây được ví như “Thái Bình Dương” trên đất liền bởi phủ đầy những cánh đồng hoa bất tận, trải dài tít tắp tới chân trời. Ảnh: nipomen2
Hang động băng Mendenhall ở thung lũng Mendenhall, Alaska, nước Mỹ. Ảnh: Kent Mearig
Bãi biển Đỏ nằm ở đồng bằng châu thổ sông Liaohe, cách thành phố Bàn Cẩm, Trung Quốc khoảng 30km về phía Tây Nam. Nơi đây được gọi là biển Đỏ vì khu vực này được bao phủ bởi một loài cỏ dại màu đỏ khi bước vào mùa thu. Ảnh: MJiA
Rừng tre Sagano nằm ở phía tây bắc của Kyoto, Nhật Bản có diện tích 16km2. Không chỉ đẹp, khu rừng còn tạo ra những bản nhạc du dương khi gió thổi qua những rặng tre xào xạc. Ảnh: Yuya Horikawa
Con phố xinh đẹp ở Bonn, thành phố bên bờ sông Rhine thơ mộng của nước Đức. Ảnh: Adas Meliauskas
Đường hầm hoa Tử Đằng nằm tại thành phố Kitakyushu với gần 150 cây Tử Đằng và hơn 20 loài khác nhau. Người dân Nhật Bản coi đây là loài hoa đại diện cho tình yêu vĩnh cửu. Ảnh: imgur.com
Những chùm hoa mềm mại chảy xuống như thác, bồng bềnh như mây khiến người xem như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh.
Rừng Đen nằm ở miền tây nam nước Đức với rừng thông bạt ngàn, các ngọn đồi và thung lũng xanh mướt. Khu rừng được coi là "lá phổi" của Đức với khí hậu quanh năm trong lành. Ảnh: andy linden
Cánh đồng chè xanh mướt ở Trung Quốc.

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

10 phát ngôn ′để đời′ về kinh doanh của giới siêu giàu

Wall Street là nơi duy nhất mà những người đi lại bằng một chiếc Rolls Royce đến để nhận lời khuyên từ những kẻ di chuyển bằng tàu điện ngầm.
 
 
Donald Trump: Đôi khi khoản đầu tư tốt nhất chính là những gì mà bạn đã không tiến hành.
 
 
John Stumpf, CEO của Wells Fagor nói về việc bán bộ 8 sản phẩm cho khách hàng lẻ:  Lý do chúng tôi chọn số 8 vì nó cùng vần với "Tuyệt vời" (Eight và Great). Nếu chúng tôi tìm được từ gì đó cùng vần với số 10, chúng tôi sẽ chọn nó.
 
 
Mark Cuban, nhà đầu tư: Đầu tư công sức là sự đầu tư giá trị nhất. Hãy hiểu rõ ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh của bạn hơn bất cứ ai trên thế giới. Hãy yêu những gì bạn làm hoặc là đừng làm nữa.
 
 
Warrent Buffett: Wall Street là nơi duy nhất những người đi lại bằng một chiếc Rolls Royce đến để nhận lời khuyên từ những kẻ di chuyển bằng tàu điện ngầm.
 
 
Peter Lynch, nhà đầu tư chứng khoán, doanh nhân: Hãy kinh doanh thứ mà bất kỳ gã ngốc nào cũng có thể tiến hành. Bởi vì sớm muộn gì những gã ngốc đó cũng sẽ lao vào kinh doanh nó.
 
 
Frank McKinney Hubbard, phóng viên, nghệ sĩ vẽ tranh biếm họa: Cách an toàn nhất để nhân đôi số tiền của bạn là gấp đôi nó lại và cho vào ví.
 
 
Bill Hambrecht, Chủ tịch WR Hambrecht & Co, khi so sánh các dịch vụ ngân hàng đầu tư: Bạn không muốn bất cứ khách hàng nào nghĩ rằng anh ta là thằng ngu hay đang bị lừa, thế nên tất cả đều có cùng một mức giá.
 
 
Andrew Carnegie, tỷ phú, nhà từ thiện: Những người không thể tự tạo động lực cho chính mình chỉ là những kẻ xoàng xĩnh, bất kể những tài năng khác của họ ấn tượng đến thế nào.
 
 
Ari Emanuel, CEO của William Morris Endeavor: Tôi không bao giờ quan tâm xem một thứ sẽ tốn bao nhiêu mà chỉ quan tâm đến giá trị của nó.
 
 
Timothy Sloan, CFO của Wells Fargo: Cách kinh doanh của chúng tôi cực kỳ đơn giản, chỉ cần không thực hiện những hợp đồng có cấu trúc trông giống như một con bạch tuộc hay con nhện.
 
Theo BusinessInsider/ Infonet

George Soros - "Một tay che cả bầu trời" - Kỳ 2: Có chí thì nên

Tuổi thơ của ông gắn liền với những ngày kinh hoàng khi phát xít Đức tàn sát người Do Thái trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.

George Soros đã có thời làm bồi bàn và phu khuân vác. George Soros là người Do Thái, sinh ngày 12/8/1930 tại Hungary, là con trai của một luật sư. Tuổi thơ của ông gắn liền với những ngày kinh hoàng khi phát xít Đức tàn sát người Do Thái trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Năm 1947, cậu bé George Soros một mình sang thủ đô Luân Đôn.

Công việc ban đầu của George Soros tại Anh là làm bồi bàn ở một hiệu ăn sang trọng, khi cả gia đình đang phải sống bằng trợ cấp xã hội. 18 tuổi, với số tiền kiếm được bằng nghề thu hoạch táo và sơn nhà thuê, George Soros ghi danh vào Học viện Kinh tế London. 

Sau giờ học, ông còn phải làm người gác đêm ở một ga tàu hỏa. George Soros tốt nghiệp trường Kinh doanh London vào năm 1952. Năm 1956, ông sang Mỹ đoàn tụ với bố mẹ cùng các anh chị em và nhập quốc tịch Mỹ. Đây là nơi ông bắt đầu khởi nghiệp với 5.000 USD ít ỏi.

Tại New York, George Soros làm việc trong hai công ty chứng khoán trước khi gia nhập hãng Arnold & Bleichroeder vào năm 1963. Năm 1969, sử dụng 250.000 USD của riêng mình và khoảng 6 triệu USD của các nhà đầu tư không phải người Mỹ mà ông quen biết, George Soros thành lập một quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài, gọi là quỹ Soros.

Chẳng bao lâu sau đó, George Soros rời bỏ Arnold & Bleichroeder và mang đi quỹ Soros do ông thành lập. Mặc dù thập niên 1970 là những năm nghèo túng của thị trường chứng khoán Mỹ, nhưng quỹ Soros lại ăn nên làm ra. 

Với tư cách là người quản lý quỹ, George Soros tập trung tìm kiếm các lĩnh vực bị đánh giá thấp hơn giá trị thật ở Mỹ và ở các nước khác. Ông mua các cổ phiếu giá thấp không được ưa thích và bán non các cổ phiếu giá cao được ưa thích.

George Soros đổi tên quỹ thành Quantum Fund vào năm 1979. Quỹ này đã đạt lợi nhuận 103% với số vốn lên tới 380 triệu USD năm 1980. Năm 1981, tạp chí Institutional Investor gọi George Soros là "nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới". Tổng lợi nhuận của Quantum Fund năm 1985 là 122% vì George Soros còn đầu tư vào cổ phiếu nước ngoài và trái phiếu dài hạn của Kho bạc Hoa Kỳ. 

Tất nhiên không phải mọi hoạt động đầu tư của George Soros đều mang lại lợi nhuận. Chẳng hạn như trong năm 1987, Quantum Fund lỗ tới 840 triệu USD khi thị trường cổ phiếu Hoa Kỳ và các nước khác sụp đổ vào tháng 10. Tuy nhiên, quỹ này vẫn đạt mức tăng lợi nhuận trong cả năm này là 14%.

Khi giảm dần vai trò quản lý quỹ của mình xuống, George Soros chuyển sang viết báo, viết sách và làm từ thiện. Ông đã xuất bản một số cuốn sách về tài chính và vấn đề toàn cầu hóa khá nổi tiếng như "The Alchemy of Finance" (1987), Soros on Soros (1995), George Soros on Globalization (2002)… George Soros cũng nhận được học vị danh dự từ nhiều trường đại học danh tiếng thế giới như Đại học Oxford, Đại học Yale, Đại học Kinh tế Budapest.

Từ những năm 1970, Soros liên tục đóng góp cho các quỹ hỗ trợ sinh viên người da màu học đại học, đặc biệt tại Nam Phi. Theo ước tính của tạp chí Time, tổng số tiền Soros đã chi cho các chương trình xã hội tại Mỹ, châu Phi và Nga là khoảng 6 tỷ USD.

Theo danh sách mới nhất của Forbes, George Soros hiện là tỷ phú giàu thứ 22 trên thế giới và thứ 12 của Mỹ với số tài sản trị giá 20 tỷ USD. Nổi tiếng là nhân vật số một trong giới tài chính, George Soros được người ta cho là có thể "một tay che cả bầu trời", làm mất giá bất kỳ đồng tiền mạnh nào trên thế giới hay gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế bởi những cư dân của Phố Wall và thị trường tài chính Luân Đôn luôn theo dõi và sẵn sàng bắt chước ông. 

Những quyết định của ông thường xuất phát từ những nhận định nhạy bén về thị trường, từ những phán đoán dựa trên những nguyên tắc kinh doanh đã đặt ra và sự thực dụng của một nhà kinh doanh lão luyện. Tuy nhiên, đi kèm với những thành công của Soros thường là những thất bại đau đớn của nhiều người, của nhiều chính phủ trên thế giới bởi quyết định của ông có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tài chính quốc tế.

George Soros - Thiên tài hay kẻ phá hoại?

George Soros kiếm được khoảng 1,1 tỷ USD trong phi vụ đầu cơ đồng bảng Anh năm 1992 và được biết đến với biệt danh "kẻ phá hoại Ngân hàng Trung ương Anh".

Nhà đầu tư tài chính vĩ đại nhất lịch sử, kẻ đầu cơ tiền vĩ đại nhất thế kỷ 20, anh hùng và tội đồ của thế giới, người làm khuynh đảo thị trường tài chính toàn cầu… là những danh hiệu được mọi người đặt cho George Soros - nhà tỷ phú thành công nhất trong lĩnh vực đầu tư tư bản, nhà kinh doanh đầy cá tính và là cái tên đã trở nên hết sức quen thuộc với Phố Wall.
 
Tên tuổi của George Soros được biết đến nhiều nhất trên thị trường tài chính thế giới qua vụ đầu cơ đồng bảng Anh vào năm 1992. 

Vào ngày Thứ tư Đen tối (Black Wednesday) 16/9/1992, George Soros đột nhiên trở nên nổi tiếng khi bán khống lượng bảng Anh có giá trị tương đương trên 10 tỷ USD, và kiếm lợi từ việc Ngân hàng Trung ương Anh do dự lựa chọn hoặc nâng lãi suất nội tệ lên ngang bằng với lãi suất tại các nền kinh tế khác trong Tổ chức sử dụng chung cơ chế tỷ giá châu Âu, hoặc thả nổi đồng nội tệ.

Cuối cùng, Ngân hàng Trung ương Anh buộc phải rút đồng bảng Anh ra khỏi cơ chế tỷ giá hối đoái châu Âu và phá giá đồng bảng. George Soros kiếm được khoảng 1,1 tỷ USD trong phi vụ này và được biết đến với biệt danh "kẻ phá hoại Ngân hàng Trung ương Anh". 

Những người thân cận của George Soros có lần tiết lộ, khi thấy những điểm yếu của đồng bảng trong thời điểm đó, George Soros đã hối thúc những người dưới quyền tận dụng lợi thế của mình chuẩn bị cho cuộc "tấn công" vào đồng tiền này.

 


Mùa hè năm 1997, trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á, George Soros một lần nữa "đánh" đồng tiền của các quốc gia, trong đó khu vực Đông Nam Á rơi vào tầm ngắm. 

Bắt đầu từ Thái Lan, cuộc khủng hoảng theo hiệu ứng đôminô nhanh chóng lan ra toàn châu Á trong nhiều tháng tiếp theo và như một kết quả tất yếu, các thị trường chứng khoán tại châu Á tụt dốc nhanh chóng. Quỹ đầu cơ của George Soros bị cáo buộc đã gây áp lực lên các đồng tiền để hưởng lợi trực tiếp từ chiến lược đầu cơ vào đồng tiền đó.

George Soros phản bác các cáo buộc và nói rằng quỹ của ông đơn thuần kiếm lợi từ chính những yếu kém của hệ thống tài chính thế giới mà ai cũng biết. Chiến lược đầu tư của quỹ này được dựa trên phân tích về các xu hướng kinh tế vĩ mô đang diễn ra hoặc được nhận định sớm diễn ra tại một số nước.

Nạn nhân tiếp theo của George Soros bị ảnh hưởng bởi dây chuyền khủng hoảng kinh tế châu Á chính là Mỹ. 

Đợt sóng khủng hoảng này đã tràn đến Phố Wall vào tháng 10/1997 và đã gây tâm lý lo ngại sẽ kéo theo một loạt sự sụp đổ các thị trường tài chính trên toàn cầu nên đã làm dấy lên làn sóng bán cổ phiếu tại Mỹ vào ngày 27/10. Cũng vào ngày hôm đó, chỉ số Dow Jones đạt một mức kỷ lục mới khi rớt 554,26 điểm, phá vỡ mức kỷ lục của "Ngày thứ hai đen tối" ở Mỹ vào năm 1987.

Danh sách các nạn nhân của George Soros vẫn được kéo dài ra cho đến nay, trong đó có nước Nga trong cuộc khủng hoảng tài chính tháng 8/1998 khi giới đầu cơ quốc tế tấn công vào đồng rúp. George Soros đã đưa ra những lời bình luận không có lợi khiến ngay trong giờ đầu tiên của một phiên giao dịch, chỉ số chứng khoán Nga đã tụt 12% và 5 ngày sau, đồng rúp đã mất tới 25% giá trị.

Những sự kiện trên khiến George Soros được biết đến như một nhà đầu cơ tiền mặt "vĩ đại" nhất của thế kỷ 20. Phố Wall và các thị trường tài chính toàn cầu chú ý đến George Soros bởi họ cho rằng ông là nhân vật số một trong giới tài chính của thế giới, là một người có khả năng "một tay che cả bầu trời" khi ông có thể làm mất giá bất kỳ đồng tiền nào hay gây ra khủng hoảng kinh tế chỉ với một vài nhận định về thị trường hay một hành động đầu tư một loại chứng khoán, đồng tiền nào đó. 

Có hai luồng ý kiến trái ngược đánh giá về George Soros. Một bên coi ông là một thiên tài về kinh doanh tài chính; một bên nhìn ông như kẻ phá hoại nền kinh tế và đồng tiền của các quốc gia. Ông thường xuyên trở thành nhân vật bị cáo buộc là có liên quan hoặc là thủ phạm gây ra các cuộc khủng hoảng hay các bất ổn về kinh tế - tài chính đối với những quốc gia mà ông từng đi qua, đã từng đầu tư vào…

Giới phân tích thì cho rằng, George Soros là nhà đầu cơ ngắn hạn, hoạt động kinh doanh của ông mang tính trục lợi rất cao, đầu tư những khoản tiền lớn nhưng mang nhiều tính đánh bạc trên cơ sở những biến động của thị trường tài chính toàn cầu.

George Soros - Bí quyết “đi bên trái” (Kỳ cuối)

Sau nhiều pha đầu tư có thể làm người khác thót tim, đến năm 1993, George Soros đạt mức thu nhập kỷ lục 1,1 tỷ USD, vượt trên tất cả các đối thủ tại Phố Wall.

George Soros - Bí quyết “đi bên trái” (Kỳ cuối)Phương châm của George Soros khá đặc biệt: Trong kinh doanh, việc đúng hay sai không quan trọng, cái quan trọng là nếu đúng sẽ có được bao nhiêu tiền, và nếu sai sẽ mất bao nhiêu tiền. 

George Soros cho biết, cũng như bao nhà đầu tư khác, để có được quyết định đúng, ông phải thu thập các thông tin và phân tích chúng một cách tỉ mỉ, cộng thêm một chút bản năng vốn có và may mắn mới tạo ra được sự thành công. 

Bên cạnh đó, một trong những yếu tố làm nên thành công của George Soros là ông luôn say sưa làm việc không mệt mỏi, mỗi đêm chỉ ngủ 2 tiếng đồng hồ.

Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế Phố Wall: Mọi người đi bên phải, riêng George Soros đi bên trái nhưng lại tỏ ra mình đúng đường. Trái với nhiều nhà kinh tế, học thuyết cơ bản của George Soros về đầu tư là thị trường tài chính - nơi bất ổn nhất. Tại đó, các mức giá cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ phụ thuộc vào người mua và người bán mà đa số họ thường hành động theo cảm tính chứ không bằng tính toán logic. 

George Soros tin rằng các nhà đầu tư luôn chịu tác động lẫn nhau và có xu hướng dịch chuyển theo số đông. George Soros cố gắng hiểu được hướng đi của số đông đó. Tuy nhiên, đến thời điểm quyết định, ông sẽ tách khỏi xu hướng chung và đi con đường riêng có lợi nhất cho mình.

Những kinh nghiệm đầu tư của George Soros đã chứng tỏ rằng ông là một nhà đầu tư hiểu biết uyên thâm về hệ thống tài chính quốc tế. Trung tâm trong nguyên tắc của George Soros là sự khác biệt giữa hình ảnh và thực tại, nói đúng hơn thì ông là một nhà buôn bằng trực quan, linh cảm.

Tại Học viện Kinh tế London, George Soros đã được học về tâm lý học và cả xã hội học. Ông đã ứng dụng những điều đã học vào các chiến lược đầu tư của mình khi ông cho rằng, vấn đề đánh giá giá trị của cổ phiếu hay hàng hóa không quan trọng bằng đánh giá các quan niệm về một tài sản và nhận ra được thời điểm mà các tài sản hay quan niệm đó thay đổi. 

Và cũng chính những kiến thức về tâm lý học và xã hội học đã giúp George Soros hình thành nên những nguyên tắc đầu tư cũng như những linh cảm trong kinh doanh của mình, dù rằng không phải lúc nào cũng đúng khi mà ông cũng đã nếm trải không ít thất bại cay đắng.

Nhiều người cho rằng George Soros là một kẻ liều lĩnh khi dám làm những điều mà họ cho là đi ngược lại với số đông và có thể phải gánh chịu rất nhiều rủi ro. Nhưng cả lý thuyết và thực tế đều cho thấy rằng, tỉ suất sinh lợi sẽ càng cao khi rủi ro càng lớn. Một thiên tài kinh doanh đầu cơ như George Soros hiểu rất rõ điều đó nên ông đã chấp nhận rủi ro và dám chịu rủi ro.