Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

6 bí quyết làm giàu từ tay trắng

Grant Cardone - nhà kinh tế hàng đầu của Mỹ đã chia sẻ bí quyết cho những ai muốn trở thành triệu phú.




Điều 1: Quyết định trở thành một triệu phú

Trước tiên, bạn phải xác định mục tiêu cao nhất của bạn là trở thành một triệu phú từ tay trắng.

Tôi đi từ chỗ không có gì, chỉ là ý tưởng và rất nhiều công việc khó khăn để tạo ra một gia tài và những giá trị bền vững khác.

Bước đầu tiên là thiết lập mục tiêu. Mỗi ngày trong suốt nhiều năm, tôi đều viết ra câu này: 'Tôi trị giá hơn 100 triệu USD'.

Điều 2: Thoát khỏi tư duy nghèo nàn

Thế giới này không thiếu tiền mà thiếu những người có suy nghĩ đúng đắn về nó. Để trở thành một triệu phú, bạn phải chấm dứt những tư duy nghèo nàn và tiêu cực.

Nếu bạn chìm đắm trong đó, bạn không thể làm giàu.

Tôi biết rõ điều này bởi vì tôi đã từng trải qua. Tôi được nuôi dưỡng bởi một bà mẹ độc thân. Mẹ tôi đã làm tất cả mọi thứ để cho ba anh em chúng tôi được đến trường.

Tuy vậy, nhiều bài học mà bà dạy tôi mang đến cảm giác thiếu thốn và sợ hãi:

'Con đừng bỏ lại thức ăn, ngoài kia còn có nhiều người chết đói', 'Con đừng lãng phí bất cứ thứ gì', 'Tiền không mọc trên cây con à'.

Sự giàu có và trù phú không nảy sinh từ những suy nghĩ tương tự như vậy.

Điều 3: Học theo người giàu

Tôi đã nghiên cứu tất cả mọi điều về những người giàu có kể từ khi tôi 10 tuổi. Tôi đọc câu chuyện của họ và xem họ đã trải qua những gì.

Họ là những cố vấn, những người thầy truyền cảm hứng cho tôi. Bạn không thể biết cách kiếm tiền từ những người không có tiền.

Vì thế, bạn cần biết người ta làm gì để tạo ra của cải và làm theo họ: Họ đọc sách gì? Họ đầu tư vào đâu? Làm thế nào để họ luôn giữ được động lực làm việc?...


Chuyên gia Grant Cardone

Điều 4: Làm việc như một người giàu

Người giàu có cách đối xử với thời gian hoàn toàn khác. Họ mua thời gian trong khi những người ít tiền hơn phải bán đi thời gian của họ.

Người giàu biết rõ thời gian có giá trị hơn tiền bạc. Do đó, họ thuê những người giỏi để làm những việc mà họ không làm được hoặc không sử dụng được thời gian hiệu quả để làm việc đó.

Người giàu luôn làm việc chăm chỉ, say mê để đạt mục tiêu, và vì thế mà họ có được vị trí như hiện nay.

Điều 5: Chuyển sự tập trung từ chi tiêu sang đầu tư

Người giàu không chi tiền vô tội vạ, họ đầu tư có tính toán. Bạn mua một căn nhà và phải trả góp. Người giàu, ngược lại, mua một tòa nhà và kiếm lời từ năm này sang năm khác.

Bạn mua xe mới vì nó mang lại cho bạn sự thoải mái và phong cách. Người giàu mua xe hơi để làm ra lợi nhuận.

Điều 6: Tạo ra nhiều nguồn thu nhập

Những người giàu không bao giờ phụ thuộc vào một nguồn thu nhập duy nhất.

Tôi đã kiếm được thu nhập 7 con số trong vòng nhiều năm sau khi mở công ty đầu tiên và bắt đầu đầu tư vào bất động sản.

Khi việc kinh doanh bất động sản và công ty tư vấn bắt đầu ổn định, tôi tham gia vào lĩnh vực thứ ba - phát triển kinh doanh phần mềm.

Sau hết, bạn có thể ngạc nhiên khi biết rằng những người giàu có muốn mọi người đều giàu có như họ.

Một phần là để bất cứ ai cũng có tiền để mua hàng hóa và dịch vụ do họ cung cấp.

Những câu nói ấn tượng của Lý Quý Trung:

- Ước mơ chẳng qua cũng chỉ là mục tiêu lớn nhất trong một thời điểm nhất định và mỗi khi nghĩ đến nó, tôi thấy vơi đi những khó nhọc hiện tại.
 
- Tôi không bao giờ sợ thất bại mà chỉ xem nó như một kết quả không như ý. Có lẽ nhờ vậy mà tôi đã đặt chân tới được những nơi mà lẽ ra đã không dành cho tôi.
 
- Tất cả những thành tựu mà ta thấy được thường bắt nguồn từ những thứ đơn giản, nhỏ nhặt.
 
- Tôi chợt hiểu ra rằng tiền bạc không làm tôi hạnh phúc mà chính niềm đam mê gây dựng một dự án có ích cho xã hội làm tôi hạnh phúc.

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Sự khác biệt về tư duy giữa Người giàu và Người nghèo

1. Người giàu tin "Tôi tạo ra cuộc đời tôi"
Người nghèo tin "Cuộc sống toàn những điều bất ngờ xảy đến với chúng tôi"

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

2. Người giàu tham gia cuộc chơi tiền bạc để thắng
Người nghèo tham gia cuộc chơi chỉ để không bị thua.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

3. NGười giàu quyết tâm làm giàu.
Người nghèo muốn trở nên giàu có.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

4. Người giàu suy nghĩ lớn
Người nghèo suy nghĩ nhỏ.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

5. Người giàu tập trung vào cơ hội
Người nghèo tập trung vào những khó khăn.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

6. Người giàu ngưỡng mộ người thành công và giàu có khác.
Người nghèo bực tức với những ai thành công và giàu có.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

7. Người giàu kết giao với người tích cực và thành công.
Người nghèo giao du với người tiêu cực hoặc thất bại.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

8. Người giàu sẵn sàng tôn vinh bản thân và giá trị của họ
Người nghèo suy nghĩ tiêu cực về bán hàng, quảng bá.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

9. Người giàu đứng cao hơn những vấn đề của họ
Người nghèo nhỏ bé hơn những vấn đề của họ.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

10. Người giàu rất biết đón nhận
Người nghèo không biết đón nhận.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

11. Người giàu chọn được trả công theo kết quả
Người nghèo chọn được trả công theo thời gian.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

12. Người giàu suy nghĩ "cả hai"
Người nghèo suy nghĩ "hoặc là hoặc"

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

13. Người giàu chú trọng vào tổng tài sản
Người nghèo chú trọng vào thu nhập từ làm việc.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

14. Người giàu quản lý tốt tiền của họ
Người nghèo không biết quản lý tốt tiền của họ.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

15. Người giàu làm cho đồng tiền của họ làm việc chăm chỉ
Người nghèo làm việc chăm chỉ vì đồng tiền.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

16. Người giàu hành động bất chấp sự sợ hãi
Người nghèo để nỗi sợ hãi ngăn cản họ.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

17. Người giàu luôn học hỏi và phát triển
Người nghèo nghĩ họ đã biết hết.

sự khác biệt về tư duy giữa người giàu và người nghèo

Bạn nghĩ gì về sự khác nhau này ?

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

Tình hình kinh tế Việt Nam đang như thế nào?

Tình hình kinh tế Việt Nam đang như thế nào?
Tác Giả : Nguyễn Vạn Phú

Một câu hỏi thường trực trong tâm trí nhiều người là sức khỏe kinh tế thực sự đang ra sao mà thấy sao có nhiều dấu hiệu trái ngược nhau quá. Nhìn quanh, ai cũng nói chuyện doanh nghiệp tư nhân rơi rụng đến con số hàng chục ngàn, thậm chí cả trăm ngàn, ai cũng có quen biết với một người vừa mới thất nghiệp và ai cũng thấy làm ăn ngày càng khó khăn, thậm chí đến chỗ bế tắc. Các đại biểu Quốc hội than nghe còn bi đát hơn như “Tình hình kinh tế gay go lắm rồi”.
Nhưng lùi lại một chút, nhìn vào các chỉ số quan trọng thì thấy tình hình đang cải thiện: lạm phát được kềm chế, tỷ giá ổn định, cán cân thương mại tương đối cân bằng, xuất khẩu tăng trưởng tốt, và đặc biệt thị trường chứng khoán đang ấm dần lên.
Tìm đâu ra một góc nhìn khách quan, có thể tin cậy được!
Trong một tài liệu bằng tiếng Anh tôi được đọc qua, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright kết hợp với Trung tâm Ash thuộc trường Harvard Kennedy School lại một lần nữa đưa ra những nhận định sắc bén, phân tích thẳng những vấn đề của nền kinh tế.
Trước hết bản báo cáo cho rằng Việt Nam vừa thoái khỏi một tình hình nguy cấp, nền kinh tế suýt đổ vỡ cách đây khoảng 12 tháng. Nhưng nền kinh tế không phải đang phục hồi mà đúng hơn là rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài. Muốn thoái khỏi tình trạng này, Việt Nam phải dọn dẹp hệ thống ngân hàng, tiếp tục cải tổ khối doanh nghiệp nhà nước và hồi sức cho khu vực tư nhân trước khi thành tựu của 14 năm qua bị xóa sạch.
Tuy nhiên dường như không ai muốn hành động gì, không muốn thay đổi hiện trạng vì 5 nhầm tưởng (myths) khá phổ biến trong giới lãnh đạo.
-          Nhầm rằng: Khủng hoảng đã qua, tình hình đang dần cải thiện (nên không cần làm gì cả);
-          Nhầm rằng: Giải quyết nợ xấu của hệ thống ngân hàng không cần phải dùng đến ngân sách Chính phủ (nên vốn VAMC chỉ có 500 tỷ đồng);
-          Nhầm rằng: Các tập đoàn, tổng công ty có thể tự tái cấu trúc bằng các kế hoạch do chính họ soạn thảo (theo kiểu tự mình nắm đầu tóc kéo lên khỏi bùn);
-          Nhầm rằng: Có thể phục hồi khu vực tư nhân bằng các biện pháp tài khóa (giảm thuế) và tiền tệ (giảm lãi suất) (trong khi thực tế các thành tựu của Luật Doanh nghiệp đang gần như bị xóa sổ dần);
-          Nhầm rằng: Khu vực nông nghiệp có thể tiếp tục là tấm đệm, giảm sốc cho nền kinh tế, thu nhận hết lượng lao động công nghiệp bị mất việc (thực tế nền nông nghiệp rất dễ bị tổn thương, môi trường đang ô nhiễm, sức nông dân đã cạn).
Khác với lần khủng hoảng cuối thập niên 1990, lúc đó Việt Nam đã đưa ra những cải cách mạnh mẽ, nhất là việc cho ra đời Luật Doanh nghiệp năm 2000 nên kinh tế phục hồi nhanh chóng và bền vững trong nhiều năm liền, lần này chính sách chỉ thấy xoay quanh hai chuyện “nới lỏng” và “thắt chặt” nên nền kinh tế cứ giật cục, tăng trưởng cao thì lạm phát nhiều, kềm chế lạm phát thì kinh tế trì trệ. Ba chương trình cải cách lớn về doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân hàng và đầu tư công hầu như chưa triển khai được gì cụ thể. Nợ xấu mà giải quyết theo cách như hiện nay chỉ là tạm thời khoanh nó lại, chuyển sang tương lai.
Nếu cứ để yên như thế này thì nền kinh tế sẽ chỉ còn tăng trưởng khoảng 3%, khó khăn kéo dài, doanh nghiệp tư nhân tiếp tục phá sản, thất nghiệp tiếp tục lan rộng.
Riêng tôi chỉ bổ sung thêm một ý: Nền kinh tế Việt Nam trước nay phát triển chủ yếu nhờ yếu tố vốn. Nay tín dụng không tăng thì làm sao có tăng trưởng? Tín dụng chắc chắn sẽ không tăng mạnh vì ngân hàng đang lo dọn dẹp lại bảng cân đối tài chính cho lành mạnh, doanh nghiệp cũng không còn sử dụng đòn bẩy nợ mạnh mẽ như trước, sức lực cũng không còn để đi vay chịu rủi ro. Nợ xấu mà giải quyết theo cách kéo dài trong năm năm thì ngân hàng càng không có sức lực hay động lực đâu để cho vay. Trong bối cảnh đó, như một quy luật bù trừ về khoản trống vốn, nhiều lãnh vực quan trọng của nền kinh tế tiếp tục rơi vào tay đầu tư nước ngoài, kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp.


Tham gia TPP, GDP sẽ tăng bao nhiêu?

Mặc dù đang bận một kế hoạch làm sách nhưng không thể không nói cho rõ một con số có nguy cơ gây hiểu nhầm.

Đó là hiện nay một khi nói đến Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) người ta thường nói tham gia TPP thì Việt Nam sẽ hưởng lợi lớn như GDP sẽ tăng khoảng 11%, xuất khẩu sẽ tăng khoảng 28%.

Nói như thế là không có nghĩa gì cả nếu không muốn nói là dễ làm hiểu sai lệch. GDP tăng 11% rồi xuất khẩu tăng 28% là so với năm nào? Hay cứ việc tham gia TPP là GDP cứ thế tăng mỗi năm 11%, xuất khẩu mỗi năm tăng 28%?!!!

Thật ra đây là các con số người ta đưa ra để so sánh hai kịch bản. Lấy cột mốc là năm 2025, nếu không tham gia TPP thì GDP sẽ bằng chừng ấy, xuất khẩu sẽ bằng chừng ấy; còn nếu tham gia TPP thì GDP sẽ lên chừng này, xuất khẩu cũng lên chừng này. Tức là nếu tham gia thì GDP sẽ cao hơn không tham gia 11% và xuất khẩu cũng vậy, cao hơn 28%.

Cụ thể hơn, theo tính toán của GS Peter Petri (đại học Brandeis) thì năm 2025, xuất khẩu Việt Nam ước chừng 239 tỷ đô-la Mỹ nếu không tham gia TPP; còn tham gia TPP (có Nhật Bản) thì ước tính sẽ tăng lên 307 tỷ đô-la Mỹ, tức tăng 67,9 tỷ đô-la hay tăng thêm 28,4%.

Con số 11% ở đâu ra không biết, còn tính toán của GS Petri về GDP là như vầy: GDP 2025 không có TPP: 340 tỷ đô-la. Có TPP mà thêm Nhật tham gia nữa thì GDP năm 2025 của Việt Nam sẽ tăng thêm 35,7 tỷ đô-la Mỹ (tăng 10,5%)  lên mức 375,7 tỷ đô-la.

Ở đây xin lưu ý, tài liệu của Amcham khi nói đến đây thì nhầm GDP tăng 35,7% cũng là một lỗi sai bị lập đi lập lại nhiều nơi, nhiều lần.

Bản thân GS Petri cũng thay đổi số liệu ước tính nhiều lần với rất nhiều con số khác nhau, các con số trên là năm 2013 còn mấy tài liệu năm 2012 và 2011 thì ổng ước tính khác nữa. Và cuối cùng nếu tham gia TPP vào năm 2013 hay 2014 thì cũng đến năm 2020 mới bắt đầu thấy tác dụng lên tăng trưởng GDP hay xuất khẩu.

Bổ sung: Cái ở trên là do thấy nhiều nơi, mỗi khi nói về TPP, đều dùng câu đó cả. Mới nhất là trong bài viết “Bao giờ nền kinh tế Việt sẽ phục hồi?” của ông Alan Phan cũng nói: “Theo dự tính, nếu Việt Nam gia nhập TPP sau khi quốc hội Mỹ thông qua, GDP của Việt Nam có thể tăng trưởng 11% trong khi xuất khẩu gia tăng 26% mỗi năm”rất là mơ hồ.

Còn ông giáo sư đó tính toán như thế có đúng hay không thì làm sao mình biết được.

Anh Lê Hồng Giang, một chuyên gia tài chính, có ý kiến như sau:

Peter Petri sử dụng mô hình CGE (GTAP) để dự báo cho một số kịch bản khác nhau.  Hầu như tất cả các dự báo chính sách liên quan đến tự do hóa thương mại đều sử dụng CGE, kết quả bao giờ cũng rất lạc quan vì CGE xây dựng trên cơ sở kinh tế học tân cổ điển trong đó thuế luôn luôn có tác động tiêu cực nên giảm bớt những thứ đó bao giờ cũng giúp kinh tế tăng trưởng mạnh hơn.

Những con số tăng trưởng GDP và xuất khẩu do Petri tính toán đều là tương đối so với kịch bản base case, thường được giả định là kịch bản có tăng trưởng ổn định và nền kinh tế (Việt Nam và thế giới) không có các thay đổi về cấu trúc và các cú sốc bất ngờ. Bởi vậy nếu có một cuộc khủng hoảng tài chính khác nổ ra hay Việt Nam có những structural change đáng kể thì những con số nói trên không còn mấy ý nghĩa. Cứ lấy những đánh giá CGE về lợi ích của việc gia nhập WTO trước đây ra xem lại thì biết.

Tuy Việt Nam vẫn nên gia nhập TPP vì nhiều lý do nhưng không nên có quá nhiều kỳ vọng vào những con số tăng trưởng được quảng cáo dù về mặt định tính có lẽ đúng.

5 Cách để trở thành nhà lãnh đạo tuyệt hảo.

Để trở thành một nhà lãnh giỏi hơn, mọi người thường chú trọng nâng cao những điểm yếu của mình.
 
 
Tuy nhiên, một nghiên cứu cho thấy rằng, tập trung phát triển những điểm mạnh sẽ hiệu quả hơn. Joseph R.Folkman-đồng tác giả quyển sách How To Be Exceptional : Drive Leadership Success by Magnifying Your Strengths đã chỉ ra 5 bí quyết để cải thiện kỹ năng lãnh đạo.
 

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

360o CTCK: Nghề môi giới chứng khoán

Môi giới là bộ phận không thể thiếu được của một CTCK. Tự doanh nếu kém hiệu quả thì có thể bỏ đi, nhưng một CTCK sẽ là cái gì nếu không có môi giới?

Là người quản lý tài khoản của khách hàng chơi chứng khoán (CK), môi giới có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đầu tư của khách hàng, đặc biệt là khách hàng cá nhân. Nếu theo các quy định và tiêu chuẩn của UBCK thì ai ai cũng nghĩ là môi giới là những chuyên viên kinh nghiệm đầy mình, trình độ thượng đẳng.

Tuy nhiên, TTCK Việt Nam lúc mới mở là TTCK nhập lệnh bằng tay và do áp lực đua lệnh, hầu như nhiệm vụ của các môi giới chỉ cốt làm sao cho lệnh của khách hàng (KH) mình vào sớm là được, chuyện phân tích tính sau. Có những môi giới nhận được tiền huê hồng trị giá hàng tỷ chỉ nhờ mấy ngón tay. Lúc ấy môi giới làm đại diện sàn, nơi nhập lệnh cuối cùng, là đỉnh của đỉnh. Chỉ có những môi giới nhanh nhạy nhất mới được ngồi vào vị trí danh giá đó, chả kém gì chỗ ngồi các môi giới triệu phú USD ở sàn giao dịch NY.

Và lúc đó mâu thuẫn lớn nhất giữa môi giới và KH chính là việc chèn lệnh để ưu tiên các khách hàng thân thiết, khách hàng VIP...

Cuộc suy thoái 2007 - 2008 và việc áp dụng các phần mềm giao dịch online đã giúp loại bỏ công việc nhập lệnh bằng tay cũng như các môi giới làm công việc này. Nghề đại diện sàn mất hết ý nghĩa.
Môi giới và phân tích

Rời vai trò nhập lệnh, môi giới sau năm 2007 được yêu cầu cao hơn về nghiệp vụ, đặc biệt là khả năng tư vấn cho khách hàng.

Nhưng ở TTCK Việt Nam, 99.99% khách hàng lại đòi hỏi ngắn hạn, thích lướt sóng và ăn lồi mồm toát mỏ với 5%/ngày. Không mấy ai đề cập đến chuyện mua vào và để 3 - 5 năm cả, mà nghĩ cũng đúng, mua vào 2007 để đến 2010 thì khả năng toi nhiều hơn thắng.

Thế thời phải thế, các môi giới muốn trụ lại với nghề thì thay bằng phân tích cao siêu phải chạy đi tìm những quả đầu cơ ngắn hạn để phím cho khách hàng.

Khả năng giao tiếp, moi tin, dàn xếp deals được đánh giá cao hơn khả năng phân tích chuyên sâu. Tất nhiên, có đôi lúc có một số môi giới nổi lên với khả năng nhận định thị trường xuất sắc, nhưng than ôi, sau khi được phong làm anh hùng, các môi giới ấy sẽ được săn sóc đặc biệt, được khách hàng quan tâm ráo riết và chờ đợi lời sấm truyền của anh.

Áp lực đó không dễ gì chịu nổi, anh có thể đúng 7 lần sai 3 lần là quá lý tưởng trong TTCK. Nhưng một khi làm anh hùng, anh không được phép sai vì có quá nhiều người ngóng chờ theo anh. Vì thế khi các anh hùng môi giới đó đi sai đường, thật khó để họ sớm chấp nhận sai lầm và sửa chữa (mình là anh hùng mà), mà thường sẽ tìm cách lấp đi bởi những chiêu quen thuộc như gồng, bình quân giá,....

Vậy nên mới có chuyện có Trưởng Phòng môi giới của một CTCK hàng đầu nổi lên như là một ngôi sao sáng vào đầu năm 2010 và đến cuối năm 2010, nghe đồn là môi giới ấy được ưu ái làm hợp đồng dài hạn với công ty ... để trả cho hết nợ.

360o CTCK: Lâm nạn tập 2 và thoái trào của tự doanh chứng khoán

Hiện tượng tự doanh lướt lát, làm giá, giành giật lệnh, thậm chí lợi dụng vị thế để chèn ép nhà đầu tư (NĐT) khiến cho sự chống đối tự doanh càng lúc càng gay gắt. NĐT chống đối vì lợi ích, UBCK kiểm soát vì rủi ro và bản thân CTCK bắt đầu chống đối vì lợi nhuận.

Làm giá cổ phiếu, đặc biệt cổ phiếu quy mô vừa và nhỏ thì không khó khăn lắm đối với tự doanh, nhưng làm thế nào để thoát được hàng lại là một câu chuyện rất khác.

NĐT có thể vấp 1 lần, 2 lần và sau đó họ nhanh chóng rút ra bài học. Các đội tự doanh đầu tiên, người đi tiên phong trong chiến lược lướt sóng và làm giá, thường là thành công với lợi nhuận lớn. Nhưng điều này lại không dễ dàng gì đối với các đội tự doanh non nghề và đến muộn.

Câu chuyện SHS kẹp PVA phía hậu trường có thể còn nhiều điều để bàn, nhưng việc SHS dính đòn một trong những siêu cổ phiếu của TTCK năm 2010 ở đỉnh giá cao cho thấy tự doanh nhiều lúc bất quá cũng chỉ là một NĐT to xác, mà trong thị trường đang suy giảm, thì một NĐT to xác lại bất lợi hơn một NĐT nhỏ con.

Không những chỉ kẹp cổ phiếu do lướt lát, làm giá, các tự doanh có thể kẹp cổ phiếu do chiến lược bất hợp lý của chính các CTCK, hay sự phản thùng của công ty niêm yết (CTNY) mà em hi vọng sẽ bàn tới sau này, hoặc do chính ban lãnh đạo CTCK và bạn bè đổ vỏ cho tự doanh,... khiến cho nhiều tự doanh ôm đầy một bụng cổ cánh.

Tiền mặt cạn kiệt, TT vẫn nắm ở trong xu thế giảm và danh mục cổ phiếu - do "lịch sử để lại' thì đầy nhóc đủ loại cổ cánh mà chưa chắc một NĐT thông thường chịu nắm giữ.

Tự doanh thay vì là cứu tinh giờ lại trở thành gánh nặng cho công ty, cắt lỗ thật không dễ dàng mà để lại thì thật đắng cay. Và lần này thì dường như không tìm được người cứu như lần trước.

Khối u tự doanh đã đến lúc cần cắt bỏ. Có những CTCK chấp nhận cắt lỗ tự doanh để làm lại từ đầu, đó là những người dũng cảm. Nhưng nhiều CTCK chọn giải pháp ôm bom, chuyển thành các khoản đầu tư dài hạn hoặc chuyển sang các công ty quản lý quỹ con, nhưng dù có chuyển thế nào thì đống cổ cánh kẹp vẫn còn và luôn chực chờ để xử lý.

Rất nhiều phiên giao dịch, khi NĐT cho rằng không còn cổ phiếu giá rẻ nữa thì đột ngột lượng cung hàng khủng tràn ngập thị trường, hoặc trong lúc thị trường vừa khởi sắc vài phiên sau một thời kỳ ảm đạm, cổ phiếu các NĐT chưa kịp về thì cổ phiếu của tự doanh và BBs đã được nhanh chóng tung ra.
Một số tự doanh khác nhạy bén hơn. Họ dùng chính số cổ phiếu bị kẹp làm kho hàng để cho vay mượn bán khống, tạm ứng T+, từ đó kiếm lợi nhuận trên số vốn đã đầu tư, và mặc nhiên tăng thêm cung hàng cho thị trường khiến cho phe ủng hộ Uptrend lắm lúc kêu trời như bọng vì bị bên bán khống chặn mất đường về.

Tất nhiên mọi thứ không phải đều là do tự doanh tất cả, nhưng TTCK như này, cũng nên chia ít gạch và mắm tôm cho các đội tự doanh chăng?

360o CTCK: Tự doanh - Từ dễ như ăn kẹo đến mắc cạn

Tự doanh, đó là điều mà mọi người nghĩ dễ như ăn kẹo.

Đúng là có một thời gian, chỉ cần anh đặt được lệnh mua là thắng. Thế nên mới có khái niệm đua lệnh ở Việt Nam, nơi mà người chỉ cần ngón tay nhanh đủ nhập được lệnh có thể kiếm được tiền tỷ/tháng.

Mà lập CTCK, làm thằng nhập lệnh cho NĐT thì ai nhanh bằng ta, blabla, thế là có tiền, mà đúng là có tiền thật. Nếu không tính giai đoạn 2004 trở về trước, thì một dạo CTCK nào cũng báo cáo lợi nhuận khủng khiếp, chủ yếu là nhờ tự doanh.

Lợi nhuận đến mức các CTCK trở nên chảnh, họ từ chối khách hàng, yêu cầu phải tiền nhiều mới tiếp. Còn lại tập trung vào tự doanh. Lúc đầu thì tự doanh niêm yết, nhưng hàng niêm yết chưa nhiều, thế là tự doanh lan sang OTC.

Bởi áp lực lợi nhuận và phương cách chia thưởng dựa vào lợi nhuận, thay cho một chiến lược đầu tư dài hạn, tự doanh của đa số CTCK lao vào đánh quả ngắn hạn.

Lúc thị trường đang tăng mạnh thì nhiệm vụ chính của tự doanh là chen lệnh. Tiếp đó là đi lùng hàng. Thị trường OTC sôi động bởi không chỉ NĐT cá nhân hay tổ chức, mà còn vì tự doanh đang hối hả tiêu tiền. Việc giải ngân được tiến hành rầm rộ trong khi không mấy ai nghĩ đến việc sau này sẽ thoái vốn bằng cách nào. Kỳ vọng lợi nhuận không chỉ khiến NĐT cá nhân mờ mắt mà nó còn làm cho những chuyên viên kinh nghiệm, bằng cấp đầy mình trở nên tham lam vô độ. Thực tế và cả viễn cảnh sang giàu, được mọi người trọng vọng, ai cũng ngóng vào khiến cho đội ngũ tự doanh ngủ quên trên chiến thắng. Tự doanh đi đâu cũng kéo theo bầy đoàn thê tử các bạn bè và NĐT thân thiết để chia nhau lợi nhuận. Tự doanh được xem là nguồn tin mật quan trọng nhất trong đầu cơ CK và các chuyên viên tự doanh một thời lên xe xuống ngựa, được trọng vọng bậc nhất trong thị trường.
TTCK xoay chiều ở đỉnh cao 1,170 năm 2007 và ... tự doanh bắt đầu mắc cạn.

Tự doanh mắc nạn 2008 

Không được hướng dẫn bởi một quy trình đầu tư và quản trị rủi ro tốt, chưa có kinh nghiệm xử lý trong khủng hoảng vì TTCK Việt Nam mới bắt đầu không lâu, các đội tự doanh của các CTCK hành xử thường đơn giản: tăng mua thêm để bình quân giá. Thoạt đầu cũng với các quỹ và NĐT còn dồi dào tiền mặt, cách ứng xử này của các tự doanh giúp cho TTCK rơi chậm lại, tạo sóng nhỏ dập dềnh ở đỉnh. Thậm chí còn có thể tạo ra một vài hiện tượng xuất thần như tứ đại thiên thần: BMC, LBM, HAX, TCT, tăng giá siêu khủng ngay cả khi TT trong downtrend.

Tuy nhiên, đợt suy giảm 2007 - 2008 không phải tầm thường, nó không phải là một sự điều chỉnh trong xu thế tăng, mà là đảo chiều đi xuống bền vững. Kinh tế thế giới đi vào khủng hoảng, các bất cập trong chính sách phát triển Việt Nam đã đến lúc không thể che giấu được trong khi lượng cung cổ phiếu vượt nhanh so với tiền đổ vào.

TT rơi chầm chậm rồi tăng tốc mạnh về sau và đa phần các đội tự doanh chết kẹp. Hầu hết các CTCK lỗ nặng năm 2008 với những khoản đầu tư (đầu cơ mới chính xác) thảm hại, không những chỉ mất giá mà còn cả mất thanh khoản, bán chẳng ai mua. Đặc biệt, những giao dịch OTC trở thành gánh nặng trên bảng cân đối kế toán.

Những anh hùng tự doanh từng một thời được tôn vinh, làm mưa làm gió năm 2006 - 2007 bây giờ đối mặt với nợ nần và thất nghiệp. Nhiều CTCK cạn kiệt tiền mặt do không quản trị tốt tài chính và rủi ro, đành giảm hoạt động và sa thải nhân viên.

Những ngôi sao sáng chói nhất trên TTCK, cổ phiếu ngân hàng và chứng khoán, lại trở thành tội đồ kéo VNI xuống vực thẳm. Những mã CP như BVS, SSI với thị giá cao ngất đến vài trăm nghìn đồng/cp rớt giá thảm hại mà trong đó có một phần lỗi lớn của tự doanh.

Thế nên mới có câu chuyện là một CTCK thành lập muộn, không kịp tham gia kinh doanh, bị cổ đông mắng như té nước lại trở thành anh hùng, bảo toàn được vốn khi TTCK suy giảm.